Tại Lạng Sơn,
cuộc xâm lược của Bắc Kinh được tiến hành trên các hướng chính Đồng Đăng-Văn
Lãng, bắc Cao Lộc và Lộc Bình.
Lời Tòa soạn:
Đã 36 năm trôi
qua nhưng ký ức của hàng triệu người dân Việt Nam về một trang sử hào hùng của
Tổ quốc, ký ức về sự hy sinh của hàng ngàn đồng bào, chiến sỹ đã ngã xuống để
bảo vệ từng tấc đất biên cương khởi đầu từ ngày 17/2/1979 ... vẫn
chưa hề phai mờ. Nhắc lại cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm
1979 với 30 ngày khốc liệt để hậu thế chúng ta thêm hiểu hơn về lịch sử của đất
nước, để tôn vinh những người con ưu tú đã ngã xuống giống như chúng ta vẫn
thường tôn vinh những anh hùng, liệt sỹ của những khác trong suốt thời kỳ chiến
tranh giải phóng dân tộc.
Với mong muốn
giúp cho độc giả có một cái nhìn khái quát nhất nhưng toàn cảnh nhất về cuộc
chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc 1979, xin giới thiệu loạt bài viết
được chắt lọc, tham khảo và tổng hợp từ các tài liệu, sách báo đã từng được
xuất bản như:
Lịch
sử lực lượng vũ trang nhân dân Quân khu 1 và 2;
Lịch sử các
quân đoàn 1, 2, Binh đoàn Pắc Bó;
Lịch sử các sư
đoàn 3, 316, 337, 338, 346, 395;
Lịch sử lực
lượng vũ trang nhân dân tỉnh Lạng Sơn, thị xã Cao Bằng; Lịch sử Bộ đội
Biên phòng
Lịch sử Dẫn
đường Không quân
Lịch sử Pháo
binh QĐNDVN
Báo Quân đội
Nhân dân tháng 2 và 3-1979
China’s
Aggression: How and Why It Failed – Nguyen Huu Thuy
Chinese
Military Strategy In The Third Indochina War - Edward C. O’Dowd
China’s War
With Vietnam 1979 – King C. Chen
---------------------------------------------------------------------------------------------------
Bài 3: Diễn
biến cuộc chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn - Cao Bằng
Trên hướng
Tràng Định, Trung đoàn 199, Tiểu đoàn 6 Tràng Định, Đồn biên phòng Pò Mã, Bình
Nghi… cùng dân quân Đội Cấn, Tri Phương, Quốc Khánh vừa bám đánh, ngăn chặn
địch ở chốt Pò Mã, Pò Pùn, Lũng Xá, Khau Mười, Bản Tang… vừa tổ chức sơ tán hơn
10.000 đồng bào khỏi khu vực chiến sự. Ngày 25-2, trên hướng này quân Trung
Quốc chiếm được thị trấn Thất Khê.
Trên hướng Lộc
Bình, Trung đoàn 123, Tiểu đoàn 9 Lộc Bình. Đồn biên phòng Chi Ma cùng dân quân
Tú Mịch, Yên Khoái… chiến đấu bảo vệ các điểm cao 540, 468, 557 (Chi Ma), khu
vực Bản Thín, Bản Lan, điểm cao 412, 481, 402 (Tú Mịch), phản kích buộc địch
phải co cụm lại ở phía nam núi Mẫu Sơn. Đến ngày 28-2 trên hướng này quân Trung
Quốc chiếm được thị trấn Lộc Bình.
Trên hướng Đình
Lập, Sư đoàn 338, Tiểu đoàn 131 Đình Lập, Đồn biên phòng Bắc Xa, Chi Lăng hiệp
đồng với tự vệ các nông lâm trường… chặn đánh địch ở điểm cao 899 (Chè Mùng),
538 (Bản Chắt), 476, 549, mỏ than Na Dương… Đặc biệt, để chia lửa cho sư đoàn
bạn, ngày 22-2 Sư đoàn 338 đã chủ động dùng Trung đoàn 460 tổ chức tiến công
vào hậu phương của địch, loại khỏi vòng chiến 1 tiểu đoàn Trung Quốc và phá hủy
toàn bộ khu doanh trại, hậu cần của chúng. Ngoài ra sư đoàn còn cho công binh
luồn sâu 20km vào sau lưng địch đánh sập 2 cầu và dùng một bộ phận tinh nhuệ
tập kích sân bay Ninh Minh (Quảng Tây).

Sư đoàn 3 phản kích ở ngã ba Tam Lung, Lạng Sơn
Trên hướng Văn
Lãng, một bộ phận của Trung đoàn 12 Sư đoàn 3, Tiểu đoàn 7 Văn Lãng, Đồn biên
phòng Tân Thanh, Na Hình... đã phối hợp phòng ngự có hiệu quả ở Nà Nôi, Bản
Thấu (Tân Yên), Thụy Hùng… buộc địch phải tạm dừng tiến công trong ngày 17-2.
Trên hướng Cao
Lộc, Tiểu đoàn 8 Cao Lộc, Đồn biên phòng Thanh Lòa, Ba Sơn cùng một bộ phận
Trung đoàn 141 Sư đoàn 3 chặn địch ở điểm cao 499 (Xuất Lễ), trên hướng Bản
Xâm, Thanh Lòa...
Đặc biệt, tại hướng trọng điểm Đồng Đăng,
từ sáng 17-2 cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra liên tục xung quanh thị trấn Đồng
Đăng (cách thị xã Lạng Sơn 14km) và ngã ba Tam Lung (cách thị xã Lạng Sơn 7km)
với các điểm nóng ở khu vực cửa khẩu Hữu Nghị và điểm cao 402, cụm chốt Thâm
Mô-Pháo đài-điểm cao 339, ga Đồng Đăng, khu đồi Chậu Cảnh, điểm cao Khôn Làng….
Mặc dù bị tổn thất, các đơn vị hỗn hợp của Sư đoàn 3, Trung đoàn 12 Thanh
Xuyên, Tiểu đoàn 11 bộ đội địa phương thị xã, Tiểu đoàn 1 cảnh sát cơ động, Đại
đội 5 công an vũ trang, Đồn biên phòng Hữu Nghị Quan... cùng dân quân tự vệ tại
chỗ đã kiên cường bám trụ trận địa, đồng thời tổ chức tiến công giành giật lại
các vị trí bị chiếm đóng, gây cho đối phương những thiệt hại hết sức nặng nề.
Bị giam chân
suốt nhiều ngày, đến ngày 22-2, quân Trung Quốc tăng cường lực lượng mở một đợt
tiến công mới vào Tân Yên, Đồng Đăng. Nhờ ưu thế vượt trội về binh hỏa lực, sau
hàng loạt trận đánh liên tục, đến ngày 23-2-1979, địch chiếm được khu vực Tân
Yên, Đồng Đăng. Đến ngày 27-2 chiếm được khu vực Tam Lung.

Ngày 24-2-1979,
Quân khu 1 quyết định thành lập Mặt trận Lạng Sơn, Thiếu tướng Hoàng Đan, Phó
giám đốc Học viện quân sự cấp cao được điều về giữ chức Phó tư lệnh Quân khu
kiêm Tư lệnh Mặt trận. Đồng thời, 2 sư đoàn chủ lực cùng nhiều tiểu đoàn bộ
binh, binh chủng và dân quân tự vệ ở tuyến sau được điều động lên chi viện cho
tiền tuyến.
Từ ngày 23-2,
sau khi tiến hành sơ tán các cơ quan và nhân dân trong thị xã Lạng Sơn, đội
hình phòng thủ của ta được điều chỉnh lại: Sư đoàn bộ binh 3 và Trung đoàn 197
Bắc Thái mới tăng cường đảm nhiệm phòng ngự khu vực phía tây và tây nam thị xã;
Sư đoàn bộ binh 327, Trung đoàn xe tăng 407 và các đơn vị của BCHQS tỉnh đảm
nhiệm khu vực phía bắc và đông thị xã; Trung đoàn phòng không 272 bố trí ở cả
phía bắc và nam thị xã, vừa chi viện bộ binh chiến đấu vừa sẵn sàng đánh trả
máy bay địch.
Từ ngày 28-2,
cuộc chiến đấu trên mặt trận Lạng Sơn bước sang một giai đoạn cam go mới. Phía
Trung Quốc huy động thêm bộ binh, xe tăng, pháo binh mở cuộc tiến công quy mô
lớn trên cả ba hướng đông, bắc và tây nhằm đánh chiếm thị xã. Lực lượng vũ
trang ta tổ chức kháng cự quyết liệt. Các trận đánh phòng ngự, tập kích và phản
kích dữ dội diễn ra trên các trục đường 1A, 1B, Bản Sâm, Cao Lộc vào thị xã,
khu vực Tam Thanh, Nhị Thanh, Hoàng Đồng, Mai Pha và thị trấn Kỳ Lừa… Ở phía
sau, Sư đoàn 337 lên tăng cường từ chiều 25-2 cũng bước vào chiến đấu với mũi
vu hồi chiến dịch của địch trên hướng cầu Khánh Khê, đường 1B. Chiến sự diễn ra
vô cùng căng thẳng, có những nơi như điểm cao 500, 607, 649 (đường 1B), 449,
473 (Cao Lộc)… hai bên liên tục giành đi giật lại nhiều lần.
Ngày 2-3, Quân
đoàn 5 trực thuộc Quân khu 1 do Thiếu tướng Hoàng Đan làm tư lệnh và Đại tá Phí
Triệu Hàm làm chính ủy được thành lập. Các sư đoàn bộ binh đang chiến đấu bảo
vệ Lạng Sơn (3, 327, 337, 338) cùng các trung đoàn binh chủng của Quân khu 1
được đặt dưới quyền chỉ huy chung của Bộ tư lệnh Quân đoàn.
Chiều tối cùng
ngày hôm đó, quân Trung Quốc chiếm được thị trấn Kỳ Lừa, các đơn vị của ta rút
về nam sông Kỳ Cùng. Bộ tư lệnh Quân đoàn 5 quyết định điều Sư đoàn 3 về làm
lực lượng dự bị, riêng Trung đoàn 12 Sư đoàn 3 tiếp tục bám trụ trên đường 1B
đánh vào sau lưng địch, phối hợp với Sư đoàn 337 kiên quyết chốt chặn tuyến
giao thông này, không cho địch vượt qua cầu Khánh Khê tiến sang thị xã và huyện
Văn Quan.
Ngày 3-3, đối
phương tiếp tục tung thêm lực lượng vào tiến công. Trên hướng chính, địch tổ
chức 3 mũi đột kích từ điểm cao 520, Hoàng Đồng và Kỳ Lừa. Trên hướng Mai Pha
địch cũng tổ chức 2 mũi đánh từ phía bắc sông Kỳ Cùng và đông nam thị xã. Đến
chiều 4-3, trên hướng đông-đông nam quân Trung Quốc chiếm được khu vực nam sông
Kỳ Cùng, sân bay Mai Pha và các khu phố trong thị xã Lạng Sơn.
Tối 4-3, Bộ tư
lệnh Quân đoàn 5 thông qua và bắt đầu triển khai phương án mở chiến dịch phản
công. Cùng thời điểm này lực lượng tăng cường của Quân đoàn 1 cũng đã hoàn tất
triển khai vào vị trí chiến đấu trên tuyến Chi Lăng-Đồng Mỏ-Hữu Kiên phía nam
thị xã. Trung đoàn pháo binh 204 với 36 dàn hỏa tiễn bắn loạt 40 nòng BM-21 đã
tập kết và lấy phần tử sẵn sàng khai hỏa. Ngày 5-3, giữa lúc các sư đoàn trên
mặt trận đang ráo riết chuẩn bị thì trưa hôm đó, nhà cầm quyền Bắc Kinh tuyên
bố rút quân khỏi Việt Nam và ngày hôm sau quân Trung Quốc rút về phía bắc sông
Kỳ Cùng. Bộ Quốc phòng quyết định cho dừng chiến dịch phản công.
Từ ngày 6-3,
lực lượng vũ trang ta tiếp tục tiến đánh những bộ phận địch còn chiếm đóng trên
lãnh thổ Việt Nam, buộc đối phương phải rút khỏi Cao Lộc (9-3), Lộc Bình
(13-3), Đồng Đăng, Tân Thanh (15-3)… về bên kia biên giới.
Theo công bố
chính thức, Lạng Sơn đã loại khỏi vòng chiến 19.000 quân Trung Quốc, tiêu diệt
và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn và 4 tiểu đoàn địch, phá hủy 76 xe tăng,
thiết giáp, 52 xe quân sự. Để lập nên chiến công này, quân dân Lạng Sơn cũng đã
phải chịu hy sinh to lớn: Sư đoàn 3 hy sinh 6,6% và bị thương 8,4% quân số; Sư
đoàn 337 hy sinh 650 cán bộ chiến sĩ, Sư đoàn 338 hy sinh 260 cán bộ chiến sĩ…
20 cá nhân và 14 đơn vị được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang
Nhân dân, Quân đoàn 5 được mang danh hiệu “Binh đoàn Chi Lăng”, Sư đoàn 337
được tặng danh hiệu “Sư đoàn Khánh Khê”.
Diễn biến cuộc
chiến đấu trên mặt trận Cao Bằng
Ở Cao Bằng,
hướng tiến công chính của địch ở Thông Nông-Hà Quảng và Phục Hòa-Đông Khê. Nhờ
huy động một lực lượng áp đảo nên ngay từ những ngày đầu đối phương đã có nhiều
mũi tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam, chia cắt và gây rối loạn hệ thống chỉ
huy của ta.

Xe tăng Trung Quốc bị Sư đoàn 346 tiêu diệt ở Bản Sẩy, Hòa An, Cao Bằng sáng 18-2-1979
Trên hướng Hà
Quảng, cuộc chiến đấu của Trung đoàn 246 Sư đoàn 346, Tiểu đoàn 6 Hà Quảng, Đồn
biên phòng Sóc Giang, Nậm Nhũng… cùng bộ đội địa phương và dân quân tự vệ diễn
ra suốt 4 ngày liền từ 17-2 đến 20-2 trên các chốt Cốc Ngựu, Cốc Nhu, Cốc
Vường, điểm cao 505, Trúc Long-Địa Lan, Nà Xác, Trường Hà… chặn đứng hướng tiến
công rất mạnh của địch ở khu vực cửa khẩu Sóc Giang. Bị tổn thất không tiến lên
được, ngày 22-2 quân Trung Quốc làm đường cho xe tăng vượt biên giới ở khu vực
mốc 109, theo đường Pác Bó-Nà Mạ-Đôn Chương đánh vu hồi vào sau lưng và bên
sườn trận địa ta, kết hợp với tấn công chính diện theo hướng cửa khẩu Bình
Mãng-Sóc Giang. Trung đoàn 246 mặc dù chiến đấu dũng cảm nhưng bị bao vây và
cắt đường tiếp tế, trước sức ép của địch phải rút khỏi Sóc Giang lên khu vực
thung lũng núi giữa Hà Quảng và Thông Nông tiến hành đánh du kích. Địch chiếm
được Sóc Giang và tiếp tục phát triển xuống phía nam Hà Quảng.
Trên hướng Trà
Lĩnh, Trung đoàn 677 Sư đoàn 346 bảo vệ hướng phòng ngự chủ yếu của sư đoàn
phối hợp với Đồn biên phòng Trà Lĩnh và các đơn vị địa phương kiên cường đánh
địch ở bình độ 700, đồi Quyết Tử, đồi Thanh Niên, điểm cao 800 và 815 (Phai
Can), khu vực mỏ mangan, trục đường Xuân Nội-Quang Trung… đánh bại các đợt tiến
công của địch trong nhiều ngày. Tuy nhiên ngày 26-2 địch chiếm điểm cao 815 lần
thứ hai. Trung đoàn 677 phải lui về phía sau, phân tán cùng dân quân các bản
làng tiếp tục chiến đấu.
Trên hướng
Quảng Hòa, Trung đoàn 567 cùng Đồn biên phòng Tà Lùng, tự vệ nông trường và dân
quân Đại Tiến, Cách Linh… giữ vững trận địa chốt chặn ở khu vực đèo Khâu Chỉa
(Phục Hòa) suốt 12 ngày đêm, có những ngày đẩy lui 7-8 đợt tiến công gây thiệt
hại nặng cho địch, không để đối phương dùng khu vực này làm bàn đạp tiến về
hướng Quảng Uyên, Mã Phục.
Trên hướng
Trùng Khánh, Hạ Lang, Bảo Lạc địch cũng tấn công các đồn biên phòng Pò Peo, Bí
Hà, Lý Vạn, Cốc Pàng, Nậm Quét… cùng một số chốt của lực lượng địa phương.
Trên hướng
Thông Nông và Thạch An, do phòng ngự của ta sơ hở, quân Trung Quốc nhanh chóng
chiếm được thị trấn Thông Nông và Đông Khê rồi dùng xe tăng tiến thẳng về thị
xã Cao Bằng. Sáng 17-2, nhân viên bưu điện huyện Thạch An báo cáo về tỉnh, cho
biết xe tăng địch cắm cờ Việt Nam đi qua trước cửa nhà bưu điện về hướng thị
xã. Được tin này, Tư lệnh Quân khu 1 lập tức ra lệnh cho BCHQS tỉnh và Sư đoàn
346 tổ chức đưa lực lượng đến đèo Ngườm Kim, Nậm Nàng chặn đánh. Chấp hành mệnh
lệnh trên, một bộ phận Trung đoàn 851 Sư đoàn 346 khẩn trương cơ động và trong
các ngày 18 và 19-2 liên tục chiến đấu với mũi tiến công cơ giới của địch trên
đường số 4 và đường từ Nước Hai về thị xã, bắn cháy hàng chục xe tăng ở khu vực
Bản Sẩy, Đức Long (Hòa An), cây số 9-12 trên đường số 4… Chiếc xe tăng trinh
sát của Trung Quốc đến được Nà Toòng ngoại vi thị xã cũng bị đơn vị cao xạ 37mm
của Sư đoàn 346 tiêu diệt.
Từ ngày 19-2,
địch bắt đầu áp sát thị xã Cao Bằng từ nhiều hướng. Cuộc chiến đấu bảo vệ thị
xã diễn ra suốt nhiều ngày nhưng do tương quan chênh lệch, đến ngày 24-2 đối
phương chiếm được thị xã Cao Bằng và có những mũi vu hồi đánh lấn xuống khu vực
đường số 3, Khâu Đồn, đèo Cao Bắc, có những mũi thọc sâu vào lãnh thổ Việt Nam
50-60km (cầu Tài Hồ Sìn). Nhiều đơn vị của ta bị tổn thất, rơi vào thế bị chia
cắt, bao vây cả 4 mặt.
Ngày 26-
2-1979, Quân khu 1 quyết định thành lập Bộ tư lệnh Mặt trận Cao Bằng do Đại tá
Đàm Văn Ngụy, Phó tư lệnh Quân khu đứng đầu. Ngày 28-2, Bộ tư lệnh Mặt trận ra
lệnh cho Trung đoàn 677 và Trung đoàn 567 vượt vòng vây rút về phía sau để bảo
toàn lực lượng, chuẩn bị đánh phản kích.
Trước tình hình
căng thẳng, Quân khu 1 gấp rút điều động Trung đoàn 852 và 183, tiểu đoàn pháo
tầm xa 122mm của Lữ đoàn 675, các tiểu đoàn bộ đội và tự vệ phía sau lên phối
hợp với các đơn vị tại chỗ tổ chức phòng tuyến mới ở phía nam cầu Tài Hồ Sìn,
đường số 3, mỏ thiếc Tĩnh Túc… Lực lượng vũ trang ta đánh lui các đợt tiến công
của quân Trung Quốc từ 20 đến 23-3, sau đó phản kích đẩy địch về khu vực cây số
5 và ngã ba Khâu Đồn, đồng thời bao vây một bộ phận mũi vu hồi của địch ở
Nguyên Bình.
Ngày 1-3-1979
trên mặt trận Cao Bằng, Sư đoàn bộ binh 311 gồm Trung đoàn bộ binh 169, 529,
531 bộ binh và Trung đoàn pháo binh 456 được thành lập. Tuyến phòng ngự thứ hai
được hình thành từ Tài Hồ Sìn đến Ngân Sơn. Chiến sự diễn ra quyết liệt trên
khắp địa bàn tỉnh. Sư đoàn 311 tổ chức cắt đường số 4, ngăn chặn cơ động tiếp
tế của đối phương. Các tiểu đoàn đặc công 20 và 45 luồn sâu vào sau lưng địch,
phối hợp với dân quân tự vệ tổ chức nhiều cuộc tập kích, phục kích gây cho quân
xâm lược những thiệt hại nặng nề.

Tiểu đoàn đặc công 45 cơ động tập kích địch trên mặt trận Cao Bằng.
Hai ngày sau
khi Bắc Kinh tuyên bố rút quân, ngày 7-3 quân Trung Quốc bắt đầu rút khỏi Thông
Nông, Trà Lĩnh, vừa đi vừa tàn phá các khu vực nằm trên đường di chuyển của
chúng. Trước tình hình trên, cùng ngày hôm đó Bộ tư lệnh mặt trận hạ lệnh
chuyển sang phản kích, dùng pháo binh bắn phá đội hình hành quân, các điểm tập
kết người và xe cơ giới của địch... Trước áp lực tiến công của ta, nhiều đơn vị
Trung Quốc vội vã rút chạy bỏ lại cả xe cộ, vũ khí và thương binh tử sĩ. Ngày
14-3, ở Minh Tâm (Nguyên Bình), một đại đội chủ lực địch bị lực lượng địa
phương của ta vây hãm đã phải hạ súng đầu hàng vô điều kiện.
Ngày 15-3, quân
Trung Quốc rút khỏi thị xã và huyện Hòa An; ngày 16-3 rút khỏi Trùng Khánh,
Quảng Hòa và Thạch An; ngày 17-3 rút khỏi Trà Lĩnh; ngày 18-3 rút khỏi Hà Quảng
và Thông Nông. Đến đây, chiến sự trên mặt trận Cao Bằng tạm thời lắng xuống.
Theo công bố chính thức, trong một tháng chiến đấu trên hướng này các lực lượng
vũ trang và nhân dân Cao Bằng đã loại khỏi vòng chiến 18.000 quân Trung Quốc, tiêu
diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn địch, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp
và 23 xe quân sự, giữ kỷ lục về số xe tăng, thiết giáp tiêu diệt được và số tù
binh bắt sống. Với thành tích chiến đấu, 5 cá nhân và 17 đơn vị đã được phong
tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân. Sư đoàn 311 được mang danh
hiệu “Sư đoàn Đông Khê”; Trung đoàn 567 được nhân dân địa phương tặng danh hiệu
“Trung đoàn Khâu Chỉa”, “Trung đoàn Phục Hòa”.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét